Võ Duy Nghi
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một vị danh tướng thời Nguyễn sơ: "Võ Duy Nghi" là tên của một vị tướng lĩnh tài ba, phò tá chúa Nguyễn và vua Gia Long trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19.
- Một nhân vật lịch sử cụ thể: Chỉ một cá nhân có thật, sinh năm 1745 tại Phú Vang, Thừa Thiên và tử trận ngày 27 tháng 2 năm 1801 tại cửa biển Thị Nại.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Võ Duy Nghi là một trong những vị tướng thủy quân xuất sắc của chúa Nguyễn.
- Lăng mộ và đền thờ của Võ Duy Nghi hiện nay nằm ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Các cách sử dụng nâng cao
"Công lao của Võ Duy Nghi": Cụm từ dùng để nói về những đóng góp, chiến tích của vị tướng này trong lịch sử.
- Công lao của Võ Duy Nghi đối với nhà Nguyễn đã được sử sách ghi nhận.
"Theo gương Võ Duy Nghi": Cụm từ mang tính ẩn dụ, khuyên người ta nên học tập tấm gương trung nghĩa, dũng cảm.
- Các chiến sĩ hải quân noi theo gương trung dũng của danh tướng Võ Duy Nghi.
Biến thể và từ liên quan
- Danh tướng Võ Duy Nghi: Cách gọi trang trọng, nhấn mạnh địa vị và tài năng quân sự của ông.
- Thiếu bảo quận công Võ Duy Nghi: Cách gọi kèm tước hiệu được truy phong sau khi ông mất, thể hiện sự tôn kính.
Từ đồng nghĩa (trong ngữ cảnh lịch sử)
- Danh tướng thủy quân: Chỉ chung các vị tướng chỉ huy hải quân giỏi, trong đó Võ Duy Nghi là một điển hình.
- Công thần nhà Nguyễn: Chỉ những người có công lao lớn trong việc giúp nhà Nguyễn gây dựng cơ nghiệp, Võ Duy Nghi được xếp vào hàng "Tá mạng công thần".
Thành ngữ, cụm từ lịch sử liên quan
"Tử trận tại Thị Nại": Cụm từ gắn liền với sự kiện cuối đời của Võ Duy Nghi, thường dùng để nhắc đến sự hy sinh anh dũng của ông.
- Võ Duy Nghi đã anh dũng tử trận tại Thị Nại vào năm 1801.
"Theo phò Nguyễn Ánh": Cụm từ mô tả hành động trung thành đi theo và phò tá chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) của ông và nhiều tướng lĩnh khác.
- Trong những năm tháng gian khó, Võ Duy Nghi vẫn một lòng theo phò Nguyễn Ánh.
- (1745-1801)
- Danh tướng thời Nguyễn sơ, sinh năm 1745 tại Phú Vang, Thừa Thiên, tử trận ngày 27-02-1801 tại Thị Nại
- Thời tuổi trẻ của ông đầu quân, thiện chiến về thủy quân. Đời Chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) ông chỉ huy các đội thủy quân. Khi nghĩa quân Tây Sơn đánh mạnh, Chúa Nguyễn chạy vào Gia Định, ông vẫn ở lại chống đỡ ít lâu, cuối cùng với cai đội Tô Văn Đoài rút quân vào Nam. Sau khi Nguyễn Phúc Thuần bị Tây Sơn giết, ông theo giúp Nguyễn ánh. Năm 1772, ông làm Cai cơ Trung quân. Năm 1784, thua to ở trận Rạch Gầm, Nguyễn ánh chạy sang Băng Cốc, ông cũng chạy theo. Năm 1788, Nguyễn ánh lấy lại được Gia Định, ông được phong Khâm sai thuộc Cai cơ
- Các năm 1793, 1799, ông ra đánh Qui Nhơn, đến năm 1801 ông cùng Lê Văn Duyệt đem thủy quân đột kích thủy trại của Tây Sơn ở cửa bể Thị Nại. Cuộc tập kích có kết quả, nhưng trong đêm 27-02-1801 ông chết tại trận. Nguyễn ánh đưa thi hài ông về chôn ở Gia Định, truy phong là Tá mạng công thần, Thượng trụ quốc, Thiếu bảo quận công. Ngày nay, tại Phú Nhuận, TP. HCM còn miếu thờ ông xây từ năm 1860